Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2008
“Cây sáo Trúc đàn Nhị, đàn Bầu… cho đến nay vẫn thế” và chúng tôi mong rằng nó sẽ vẫn mãi mãi như thế vì đó chính là truyền thống dân tộc. Nếu chúng ta theo kinh tế thị trường, chìu theo thị hiếu mà hiện đại hóa, điện tử hóa để thu phục giới trẻ thì vô hình dung chúng ta đã đánh mất đi niềm tự hào của một dân tộc có mấy ngàn năm văn hiến..Cái hay của âm nhạc dân tộc Việt Nam không phải là sự hào nhoáng bên ngoài mà chính là ở cái hồn bên trong. Cùng một nốt nhạc đó mà trên cây sáo Trúc, đàn Nhị, đàn Bầu có thể diễn cảm qua nhiều nỗi vui buồn khác nhau; Điều mà các nhạc khí của Tây phương không thể nào làm được. Vì thế để thu phục giới trẻ trở về với âm nhạc dân tộc không phải là tìm cách hiện đại hóa nó mà phải làm cho họ hiểu tính năng của từng loại nhạc khí dân tộc. Khi một tiếng đàn cất lên nó có ý nghĩa như thế nào.. Rung nhanh diễn tả niềm vui, Rung chậm diễn cảm nổi buồn, Rung nhấn bày tỏ sự oán trách, giận hờn, Rung nhún biểu cảm lòng nuối tiếc nhớ thương, Chỉ với một kỷ thuật Rung mà có thể nói lên đựơc bao nhiêu nổi niềm. Tính năng các nhạc cụ Việt Nam có hàng trăm kỷ thuật như thế. Vậy thì cớ sao lại quan tâm đến sự hiện đại hóa hào nhoáng bên ngoài mà quên đi cái tinh tế, cái hồn của dân tộc bên trong. Để thu phục giới trẻ là làm cho họ hiểu được tiếng đàn của người xưa.“ Ngân Tranh cửu dạ ân tình lộng. Tâm khiếp cô phòng bất nhẫn qui”Thanh niên thiếu nữ ngày nay mà hiểu được câu này thì nhất định phải tìm sư hoc đạo.
VĨNH TUẤN
Click here to cancel reply.
Thứ Năm, 14 tháng 2, 2008
Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2007
Đàn Nguyệt Cầm xưa có 4 dây
Có phải Thúy Kiều
Đàn tỳ bà?
Tần Tranh (Vĩnh Tuấn)
Tôi hiện là một nông dân, đã lâu không được cầm cây viết , nhưng trước đây cũng là môt nghệ nhân chơi nhạc truyền thống, sở trường về đàn tỳ bà và nguyệt cầm nên thỉnh thoảng khi có gió mát trăng thanh cũng đem đàn ra gảy vài đoạn tuỳ hứng…Vừa qua liên tiếp những sổ báo “kiến thức ngày nay” luôn có những bài viết về Kiều rất thú vị làm cho tôi phải đi mượn một cuốn Kiều của người quen cũ để nghiên cứu, đọc đi, đọc lại nhiều lần.Cuốn Kiều tôi mượn do nhà xuầt bản Văn Hoá in lại thủ bút của ông Mạnh Quỳnh năm 1951 có 6 phụ bản tranh lụa rất đẹp nhưng phụ bản của ông Mai Trung Thứ vẽ Kiều đàn cho Kim Trọng bằng chiếc đàn tỳ bà làm cho tôi rất ngạc nhiên.Bởi lẽ xét về chuyên môn cũng như theo sự diễn đạt của cụ Nguyễn Du thì Thúy Kiều phải đàn nguyệt cầm mới đúng.
Căn cứ vào 4 câu thơ sau:
467- Hiên sau treo sẳn cầm trăng .
Cầm trăng là hình tượng của cây đàn nguyệt cầm,
471- So dần dây vũ ,dây văn.
Dây vũ,dây văn chính là dây đài,dây tiếu mang 2 âm xàng+liu của nguyêt cầm . Nếu là đàn tỳ bà thì phải so cả 4 dây: họ +xàng +xê+liu
442- Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương
To nhỏ ở đây là sự dìu dăt (nuance)chứ không phải để chỉ 4 sợi dây : họ,xàng,xê,liu(sơi to,sợi nhỏ)của đàn tỳ bà . mà chính là để chỉ cây đàn nguyệt cầm xưa có 4 dây gồm 2 dây ”đài” và 2 dây”tiếu” được cột song song gần nhau (giống cách cột dây đàn mandolin .Bằng chứng là tất cả đàn nguyệt cầm xưa đều có 4 trục lên dây (ngày nay chỉ cột 2 dây cho dễ đàn ).
2570- “Bốn dây nhỏ máu 5 đầu ngón tay” thì nhất định phải là bàn tay trái vì bao nhiêu nổi lòng tâm sự được trút lên tiếng đàn qua nhấn vỗ rung…của tay trái mà tạo thành. Đàn tỳ bà làm theo hình giọt nước ,cần đàn rất lớn, nếu xét về chuyên môn thì không ai có thể sử dụng cả năm ngón tay để nhấn trên đàn tỳ bà . Nhưng đàn nguyệt cầm có cần đàn vừa thanh, vừa dài nên nhạc công có thể dùng cả 5 ngón để đàn.
Trong dàn nhạc ngũ tuyệt của Việt Nam (tranh,tỳ,nhị,nguyệt,bầu)thì đã có 4 cây theo nhạc sử Trung quốc đều có ghi rõ nguồn gốc,xuất xứ , kể cả cây đàn bầu .( Đường thư : Độc huyền bào cầm…)Riêng chỉ có cây đàn Nguyệt thì chưa có một nước nào trên thế giới , kể cả Trung quốc,viết về nguồn gốc vì cây đàn nguyệt cầm chính là cây đàn thuần tuý nhất của người Việt Nam chế tạo thành . Và phải chăng đó chính là chủ ý của Nguyễn Du Tiên Điền?
.
Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2007
Đôi điều đặc biệt về truyện Kiều
Vĩnh Tuấn
Có lẻ chưa có tác phẩm nào trong kho tàng văn chương VN đươc nhắc đến nhiều như truyện Kiều của cụ Nguyễn Du. Với mong muốn cung cấp thêm cho những người yêu truyện Kiều đôi điều đặc biệt trong tác phẩm bất hủ này. Chúng ta thử tìm hiểu xem cái tài của cụ Nguyễn Du trong việc dùng những câu đối (đối âm, đối ý) những câu dùng ba, bốn, năm điêp ngữ (để biểu thị gía trị biểu cảm của câu thơ ) và những chữ đồng thanh biệt nghĩa vô cùng tinh tế hầu giúp người đọc cảm nhận được hết cái hay, cái đẹp của người xưa
.NHỮNG CÂU CÓ BA HAY BỐN,NĂM ĐIỆP NGỮ
(Dùng để biểu thị giá trị biểu cảm của câu thơ)
242 Hiên tá gác bóng nghiêng nghiêng, Nỗi riêng, riêng chạnh tất riêng một mình
259 Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người, nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi
279 Có cây, có đá, sẵn sàng, có hiên lãm thúy, nét vàng chưa phai
471 So dần dây vũ dây văn, Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương
487 Khi tựa gối, khi cúi đầu, khi vò chín thúc,khi chau đôi mày
537Gót đầu mọi nỗi đinh ninh, nỗi nhà tang tóc,nỗi mình xa xôi
557Còn non còn nước còn dài, Còn về còn nhớ đến người hôm nay
561 Ngại ngùng một bước một xa, môt lời trân trọng châu xa mấy hàng
579 Già giang một lão một trai, một dây vô lại buột hai thâm tình
602 Duyên hội ngộ, đức cù lao, bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn
697 Phận dầu, dầu vậy cũng dầu, Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời
727 Kể từ khi gặp chàng Kim, khi ngày quạt ước,khi đêm chén thề,
803 Đêm thu một khắc một chầy,Bâng khuân như tỉnh như say một mình
883 Khi về bỏ vắng trong nhà, khi vào đồi đọa, khi ra vội vàng
885 Khi ăn khi nói lỡ làng, khi thầy khi tớ,xem thường xem khinh
951 Dạy rằng con lạy mẹ đây, Lạy rồi sang lạy cậu mày bên kia
1067 Giá đành trong nguyệt trên mây, Hoa sao, hoa khéo đọa đày bấy hoa
1145 Nhưng tôi có sá chi tôi , Phận tôi dành vậy vốn người để đàu
1175 Nàng rằng: thôi thế thì thôi, Rằng không,thì cũng vâng lời rằng không
1205 Mụ rằng: ai cũng như ai, Người ta ai mất tiền hoài đến đây
1234 Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giât mình, mình lại thương mình xót xa
1243 Cảnh nào cảnh chằng đeo sầu, Người buồn, cảnh có vui đâu bao gìờ
1272 Đã cho lấy chữ hồng nhan, Làm cho, làm hại, cho tàn cho cân
1284 Hải đường mơn mỡn cành tơ, Ngày xuân càng gió, càng mưa, càng nồng
1383 Hương càng đượm, lửa càng nồng, Càng xôi vẽ ngọc càng lồng màu sen
1617 Làm cho, cho mệt, cho mê, Làm cho đau đớn ê chề cho coi
1741 Xót thay đào lý một cành, một phen mưa gió,tan tành một phen
1873 Bắt khoan,bắt chặt đến lời, bắt qùy tận mặt, bắt mời tận tay
1877 Chước đâu rẻ thuý chia uyên, ai ra đường nấy, ai nhìn được ai
2113 Nàng càng mặt ủ mày châu ,càng nghe mụ nói, càng đau như dần
2120 Cùng đường dù tính chữ tòng, biết người biết mặt, biết lòng làm sao
2139 Cũng nhà hành viện xưa nay, cũng phường bán thịt,cũng tay buôn người
2359 Đàn bà dễ có mấy tay, Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan
2383 Trước là Bạch Hạnh ,Bạc bà,Bên là Ưng, Khuyển,bên là Sở Khanh
2408 Bảo cho hội họp chi kỳ, năm nay là một, nữa thì năm năm
2604 Nàng càng ủ liễu phai đào, trăm phần, nàocó, phần nào phần tươi
2674 Oan kia theo mãi với tình, Một mình mình biết, một mình mình hay
2809 Sinh càng trông thấy càng thương , Gan càng tức tối, ruột càng xót xa
Này chồng, này mẹ, này cha, Này là em ruột, này là em dâu
Huyên già dưới gối gieo mình, Khóc than , mình kể sự mình đầu đuôi
Còn duyên , may lại còn người, Còn vầng trăng bạc,còn lời nguyền xưa
Có khi biến, có khi thường,có quyền,nào phải một đường chấp kinh
3143 Tình nhân lại gặp tình nhân, Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình
3223 Khi chén rượu, khi cuộc cờ , khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên
***
Sau đây là những câu có những điều đối nhau: (cú-trung-đối)
06 Trời xanh quen thói, má hồng đánh ghen
10 Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng
18 Một người một vẽ, mười phân vẹn mười
20 Khuông trăng đầy đặng, nét ngời nở nang
22 Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
26 Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
28 Sắc đành hòa một, tài đành hòa hai
30 Pha ghề thi họa, đủ mùi ca ngâm
44 Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh
48 Ngưạ xe như nước, áo quần như nêm
50 Thoi vàng vó rắc, tro tiến giấy bay
86 Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha
104 Sầu tuôn dứt nối, châu sa vắng dài
114 Bóng chiều đã ngã, dặm về còn xa
116 Thác là thể phách, còn là tinh anh
128 Chớ nề u hiển, mới là chị em
150 Văn chương nết đất, thông minh tánh trời
152 Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa
160 Gặp tuần đố lá, thỏa lòng tìm hoa
164 Tình trong như đã, mặt ngoài còn e
166 Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn
174 Vàng gieo đáy nước, cây lồng bóng sân
176 Giọt sương gieo nặng, cành xuân la đà
232 Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia
238 Chưa xong điều nghĩ, đã dào mạch tương
252 Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng
254 Trúc xe ngòi thỏ, tơ trùng phiếm loan
256 Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình
268 Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh
276 Buồn không để đó, người xa chưa về
292 Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh
318 Xuyến vòng đôi chiếc, khăn là một vuông
322 Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu
332 Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong
348 Chiều xuân dễ khiến, nét thu ngại ngùng
362 Chàng về viện sách, nàng dời lầu trang
364 Tình càng thấm thía, dạ càng ngẩn ngơ
366 Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia
396 Góp lời phong nguyệt, nặng nguyền non sông
410 Chẳng sân ngọc bội, thời phường kim môn
424 Lòng xuân phới phới, chén xuân tàng tàng
434 Ngọn đèn trong suốt, trướng huỳnh hắt hiu
438 Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần
446 Đài sen nối sáp, lư đào thêm hương
448 Tóc mây một món, dao vàng chia đôi
454 Giải là hương lộn, bình gương bóng lồng
478 Một rằng Lưu Thủy, hai rằng Hành Vân
480 Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia
488 Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày
538 Nổi nhà tang tóc, nổi mình xa xôi
542 Dám xa xôi mặt, mà thưa thớt lòng
550 Chưa vui sum họp, đã sầu chia phôi
552 Dẫu thay mái tóc, dám dời lòng tơ
564 Mối sầu xẻ nửa, bước đường chia hai
566 Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa
572 Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xát vàng
580 Một dây vô lại, buộc hai thâm tình
582 Rụng rời giọt liễu, tan tành gối mai
590 Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây
592 Điếc tai lân tuất, phủ tay tồi tàn
620 Liệu đem tấc cỏ, quyết đền ba xuân
628 Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao
634 Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng
636 Nhìn hoa bóng thẹn, trông guơng mặt dày
638 Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai
640 Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ
558 Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi
660 Này ai vu thác, cho người hợp tan
662 Nỡ đày đọa trẻ, càng oan khốc già
664 Thôi thì mặt khuất, chẳng thà lòng đau
678 Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây
682 Tan nhà là một, thiệt mình là hai
686 Tờ hoa đã ký, cân vàng mới trao
692 Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ đã xong
696 Áo dầm giọt lệ, tóc se mái sầu
708 Làm thân trâu ngựa, đền nghì trúc mai
712 Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn
728 Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
732 Xót tình máu mủ, thay lời nước non
742 Đốt lò hương ấy, so tơ phiếm này
746 Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai
758 Một hơi lạnh ngắt, đôi tay lạnh đồng
762 Mới giầu cơm vựng, chưa phai giọt hồng
772 Dẫu mòn bia đá, dám sai tấc vàng
782 Lệ đâu thấm áo, tơ chia rũ tằm
794 Thiệt lòng khi ở, đau lòng khi đi
816 Giã danh hầu hạ, dạy nghề ăn chơi
823 Sính nghi rẻ giá, nghênh hôn sẵn ngày
852 Phần căm nỗi khách, phần nhơ nỗi mình
860 Một mình thì chớ, hai mình thì sao
870 Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh
884 Khi nào dùng dắng, khi ra vội vàng
906 Kía gương nhật nguyệt, nọ dao quỉ thần
912 Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây
942 Đêm đêm hằn thực, ngày ngày nguyên tiêu
944 Xôn xao anh yến, dập dìu trúc mai
946 Đưa người cửa trước, rước người cửa sau
958 Đã khi chung chạ, lại khi đứng ngồi
984 Mụ còn trông mặt, nàng đà quá tay
992 Cắn người coi sóc, rước thầy thuốc than
998 Người dù muốn quyết, trời nào đã cho
1026 Đến điều sống đục, sao bằng thác trong
1036 Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia
1060 Hình dong chải chuốt, áo khăn diu dàng
1076 Cám lòng chua xót, nhạt tình chơ vơ
1080 Nhờ tay tế độ, với người trầm luân
1082 Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài
1120 Gió cây rút lá, trăng ngàn ngậm gương
1132 Vút đâu xuống đất, cánh đâu lên trời
1140 Uốn lưng thịt đỗ, giập đầu máu sa
1150 Bắt người bảo lĩnh, làm tờ cung chiêu
1185 Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương
1208 Nỗi đêm khép mỡ, nỗi ngày riêng chung
1210 Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề
1232 Sớm đưa tống ngọc, tối tìm tràng khanh
1242 Nữa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu
1246 Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa
1250 Ngẩn ngơ trăm mối, giùi mài một thân
1252 Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau
1282 Vẻ nào chẳng mặn, nết nào chẳng ưa
1290 Trước còn trăng gió, sau ra đá vàng
1296 Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ
1298 Bàn vây điểm nước, đường tơ họạ đàn
1316 Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu
1350 Trước hàm sư tử, gởi người đằng la
1358 Đành thân phận thiếp, nghĩ danh giá chàng
1366 Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều
1374 Cậy tay thầy thợ, mượn người dò la
1382 Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông
1384 Càng xôi vẽ ngọc, càng lồng màu sen
1390 Nặng lòng e ấp, tính bài phân chia
1392 Dạy cho má phấn, lại về lầu xanh
1428 Đào hoen quẹn má, liễu tang tác mày
1430 Gương lờ nước thủy, mai gầy vóc sương
1434 Có nghe lời trước, chớ đà lụy sau
1466 Kiệu hoa cất gió, đuốc hồng điểm sao
1474 Đào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh
1480 Mặn tình cát lũy, lạt tình tào khang
1484 Ở vào khuông phép, nói ra mối giường
1486 Dễ dò rốn bễ, khôn lường đáy sông
1492 Trước người đẹp ý, sau ta biết tình
1512 Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi
1525 Nữa in gối chiếc, nữa soi dặm trường
1536 Miệng cười đã lắm, tin nhà thì không
1538 Trách người đen bạc, ra lòng trăng hoa
1540 Cũng dong kẻ dưới, mới là lượng trên
1558 Gớm tay thêu dệt, ra lòng trêu ngươi
1570 Chữ tình càng mặn, chữ duyên càng nồng
1588 Đã dơ bụng nghĩ, lại bia miệng cười
1592 Đèn khuya chung bóng, trăng tròn sánh vai
1596 Một niềm quan tái, mấy mùa gió trăng
1604 Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng
1608 Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen
1630 Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi
1632 Nào lời non nước, nào lời sắt non
1666 Nghĩ con vắng vẻ, thương người nết na
1672 Tro than một đống, nắng mưa bốn tường
1676 Tơ tình đức ruột, lửa phiền cháy gan
1678 Con người thế ấy, thác oan thế này
1684 Phi phù trí quỉ, cao tay thông huyền
1692 Mặt nàng chẳng thấy, việc nàng chẳng tra
1700 Sự nàng đã thế, lời thầy dám tin
1716 Cửa nhà đâu mất, lâu đài nào đây
1730 Chẳng loài trốn chúa, thì quân lộn chồng
1740 Thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh
1784 Sớm năng nỉ bóng, đêm ngơ ngẩn lòng
1832 Suy lòng trắc dĩ, đau lòng chung thiên
1838 Bắc quì tận mặt, bắc mời tận tay
1840 Giọt dài giọt ngắn, chén đầy chén vơi
1844 Khuyên chàng chẳng cạn, thì ta có đòn
1848 Chửa xong cuộc rượu, lại bày trò chơi
1856 Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm
1878 Hết điều khinh trọng, hết lời thị phi
1880 Gỡ cho ra nợ, còn gì là duyên
1900 Rằng::tài nên trọng, mà tình nên thương
1904 Hửu tài thương nỗi, vô duyên, lạ đời
1910 Rắp đem mệnh bạc, xin nhờ cửa Không
1926 Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng
1930 Ngày pho thủ tự, đêm nhồi tâm hương
1936 Nói lời trước mặt, rơi châu vắng người
1948 Trông vào đau ruột, nói ra ngại lời
1966 Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu
1978 Nói lại lời nói, lời chưa hết lời
1986 Tìm hoa quá bước, xem người viết kinh
2000 Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than
2012 Chào người vui vẻ, nói năng dịu dàng
2030 Tiếng gà điểm nguyệt, dấu giày cầu sương
2032 Phần e đường sá, phần thương dãi dầu
2054 Muối dưa đắp đổi, tháng ngày thong dong
2056 Hương đèn thạo việc, trai phòng quen tay
2058 Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương
2060 Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân
2062 Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời
2094 Lấy lời hung hiểm, ép duyên Châu Trần
2106 Thật thà có một, đơn sai chẳng hề
2112 Trái lời nẻo trước, lụy mình đến sau
2130 Quét sân đặt trác, rửa bình thắp nhang
2140 Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người
2148 Cũng thần mày trắng, cùng phường lầu xanh
2158 Đã xoay đến thế, còn vần chưa tha
2164 Cũng liều mặt phấn, cho rồi ngày xanh
2168 Vai năm tất rộng, thân muời thước cao
2170 Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài
2174 Gươm đàn nữa gánh, non sông một chèo
2176 Tấm lòng nhi nữ, cũng xiêu anh hùng
2178 Hai bên cũng liếc, hai lòng cũng ưa
2210 Đặt giường thất bảo, xây màn bát tiên
2212 Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng
2234 Cỏ cao hơn thước, liểu gầy vài phân
2242 Dấu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng
2266 Hoa quân chớp chới, hà y rở ràng
2268 Trúc tơ kéo trước, kiệu vàng kéo sau
2280 Cũng may giây cát, được nhờ bóng cây
2286 Thì thùng trống trận, rập rình nhạc quân
2308 Lòng lòng cũng giận, người người chấp uy
2312 Vệ trong thị lâp, cơ ngoài song phi
2314 Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân
2408 Năm nay là một, nữa thì năm năm
2410 Đã tin điếu trước, ắt nhằm việc sau
2426 Dễ đem gan óc, đền nghì trời mây
2432 Lọ là thâm tạ, mới là tri ân
2436 Cho người biết mặt, là ta cam lòng
2442 Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà
2476 Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân
2482 Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha
2486 E dè gió đập, hãi hùng sóng va
2490 Tưới ra đã khắp, thấm vào lại sâu
2502 Hẹn kỳ thúc giáp, quyết đường giải binh
2504 Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng
2510 Lễ nghi giàn trước, bác đồng phục sau
2514 Ba bề phát súng, bốn bên kéo cờ
2536 Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra
2550 Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi
2552 Đem thân bách chiến, làm tôi triều đình
2566 Xôn xao tơ trúc, hội đồng quân quan
2592 Quan trên trông xuống, người ta xem vào
2602 Lá màn rủ thấp, ngọn đèn khêu cao
2606 Cướp công cha mẹ, thiệt đời thông minh
2630 Xót vì việc nước, mà ra phụ lòng
2642 Chờ cho hết kiếp, còn gì là thân
2658 Tu là cõi phúc, tình là dây oan
2664 Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng
2668 Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần
2670 Kề lưng hùm sói, gởi thân tôi đòi
2672 Trước hàm rồng cá, gieo mồi thuỷ tinh
2682 Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm
2686 Biết điều khinh trọng, biết lời phải chăng
2690 Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau
2700 Đóng thuyền chực bến, kết chài giăng sông
2708 Tuy dần hơi nước, chưa lòa bóng gương
2716 Kiếp xưa đã vậy, lòng này dễ ai
2718 Bán mình là hiếu, cứu người là nhân
2724 Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào
2734 Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng
2746 Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời
2750 Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày
2768 Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa
2770 Càng ngao ngán nổi, càng ngơ ngẩn dường
2782 Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần
2792 Chàng Kim về đó, con thì đi đâu
2796 Dầm dề giọt ngọc, thẩn thờ hồn mai
2802 Đã đành phận bạc, khôn đền tình chung
2810 Gan càng tức tối, ruột càng xót xa
2826 Cắt người tìm tỏi, đưa tờ nhắn nhe
2832 Như nung gan sắt, như bào lòng son
2836 Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao
2846 Càng sâu duyên mới, càng dào tình xưa
2848 Tuôn châu đòi trận, vò tơ trăm vòng
2852 Trầm bay nhạt khói, gió đưa lay rèm
2854 Tiếng kiều đồng vọng, bóng xiêm mơ màng
2862 Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần
2872 Nghĩ mình vinh hiển, thương người lưu ly
2874 Quan sơn nghìn dặm, thê nhi một đoàn
2904 Hơn người trí dũng, nghiên trời uy linh
2908 Oán thì trả oán, ân thì trả ân
2910 Trước sau trọn vẹn, xa gần ngợi khen
2920 Đánh quen trăm trận, sức dư muôn người
2932 Xót thân chìm nổi, đau lòng hợp tan
2934 Mảnh hương còn đó, phím đàn còn đây
2954 Sóng êm Phúc Kiến, lửa tàn Tích giang
2986 Lâm tri buổi trước, tiền đường buổi sau
2998 Kiếp sau hoạ thấy, kiếp này hẳn thôi
3010 Xuân già còn khoẻ, huyên già còn tươi
3048 Đã tu tu trót, qua thì thì thôi
3064 Hai bên gặp gỡ, một lời kết giao
3074 Còn vần trang bạc, còn lời nguyền xưa
3084 Dẫu lòng kia vậy, còn lời ấy sao
3086 Dưới giày có đất, trên cao có trời
3094 Hoa thơm phong nhị, trăng vòng tròn gương
3100 Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn
3102 Đã xong thân thế, còn toan nỗi nào
3104 Dám đem trần cấu, dự vào bố kinh
3110 Đem tình cầm sắt, đổi ra cầm cờ
3112 Đã buồn cả ruột, mà nhơ cả đời
3122 Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời
3132 Hoa soi ngọn đuốc, hồng chen bức là
3136 Bâng khuân duyên mới, ngậm ngùi tình xưa
3154 Vớt hương dưới đất ,bẻ hoa cuối mùa
3162 Còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi
3160 Thì còn em đó, lọ cầu chị đây
3162 Chẳng cầm cho vững, lại giày cho tan
3168 Tưởng thề thốt nặng, Cũng đau đớn nhiều
3174 Một lời quyết hẳn, muôn phần kính thêm
3176 Là nhiều vàng đá, phãi tìm trăng hoa
3178 Lọ là chăn gối, mới ra sắt cầm
3198 Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa
3200 Ấy là hồ điệp, hay là Trang sinh
3202 Ấy hồn Thục đế, hay mình đổ quyên
3216 Gà đà gáy sáng, trời vừa rạng đông
3222 Chẳng trong chăn gối, cũng ngoài cầm thơ
3230 Rêu trùm kẻ gạch, cỏ lên mái nhà
3238 Một cây cù mộc, một sân quế hòe
3240 Vườn xuân một cửa, để bia muôn đời
***
Phải chăng có một mối liên hệ giữa những
Cầm tấu khúc của Thuý Kiều
với các danh phẩm cổ truyền Huế
Huơng giang nhất phiếm nguyệt
Thiên cổ hứa đa sầu
Nguyễn Du
VĨNH TUẤN
Lúc Kiều sơ ngộ Kim Trọng thấy dung quang người “Chẳng sân ngọc bội cũng phường Kim Môn”.Lại đoán số phận mình “ngàn thu bạc mệnh một đời tài hoa” rồi e ngại”Trăm năm biết có duyên gì hay không”. Cho nên nhân dip này mượn tiếng đàn để báy tỏ nỗi niềm với ườc mong nhân định thắng thiên
.
473.Khúc đâu Hán Sở chiến trường.
Sở vương Hạng Vũ đánh trăm trận trăm thắng chỉ thua một trận Cai Hạ mà bỏ thân tại Ô Giang , phó đại cuộc về tay Hán vương Lưu Bang, chẳng qua tài ba không hơn được số mạng .Thúy Kiều tấu khúc này làm cho ta liên tưởng đến bài Xuân Phong-Long Hồ, hai trong mười bài nổi tiếng “ Liễn bộ thập chương” cuả Nhã Nhạc cung đình Huế .
Mởđầu với hai câu rao:
“Cuộc đời như ngọn gió xuân
Hổ Long quyết đấu chiến trường mà chi”
Để rồi:
Lòng dặn lòng .
Ai mặc ai .
Thương cứ thương .
Nhớ cứ nhớ .
Chuyện vui cuời .
Người ở đời .
Đừng đem dạ, đem dạ sầu tư.
Ai mà thoát khỏi ra vòng nợ duyên .
Rứa cũng nên .
Miễn cho bền .
Lòng chớ phiền .
Lửa càng đượm dám xin giữ gìn .
Khuyên ai, đừng phãi hương nguyền
.
475.Khúc đâu Tư Mã phượng cầu
Ông Tư Mã Tương Như vì yêu nàng Trác Văn Quân mà viết nên khúc hát: ”Phụng hề Phụng hề qui cố hương. Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng”
(Phượng ơi! Phượng ơi về cố hương. Dạo chơi bốn bể tìm người thương) . Trong nhạc truyền thống Huế có bài Lý con sáo : “ Ai đem con sáo sang sông . Để cho con sáo sổ lồng bay xa” chỉ với hai câu lục bát mà từ gốc Huế đã lan truyền qua nhiều cách thể hiện khác nhau: Lý con sáo Huế : buồn tủi, sầu thương. Lý con sáo Nam: ai oán giận hờn. Lý con sáo Bắc : xót xa tiếc nuối… Hính ảnh con sáo sổ lồng bay xa làm cho ta liên tưởng đến Phụng cầu hoàng của Tư Mã Tương Như với nổi niềm ai oán thiết tha đã làm xiêu lòng nàng Trác Văn Quân trở về với mình.
477.Kê Khang này khúc Quảng Lăng
Ông Kê Khang sinh về cuối đời nhà Ngụy thời Tam Quốc (221-264),gặp lúc vận nước Ngụy sắp nguy vong , bao nhiêu trung thần nghĩa sĩ đều bị ám hại . Trông thấy cuộc đời hiểm trở eó le, lắm nổi đau lòng ông mới chế ra khúc “Quảng Lăng Tán “ để nói về sự vô thường của đời người .”Một rằng Lưu thủy hai rằng Hành vân”,nước chảy mây bay chẳng định nơi.
Trong nhạc cổ truyuền Huế khi đàn hơi Khách thường được khởi nhạc bằng bài Lưu thủy , còn với hơi Nam thường được bắt đầu bằng bản Hành vân. Đây là hai bài căn bản nhất của người học nhạc truyền thống và phải chăng nó đã được sáng tác ra để hình dung tiếng đàn của Thúy Kiều qua khúc Quảng Lăng .
779.Quá quan này khúc Chiêu Quân
Vương Chiêu Quân là một cung nữ tài sắc vẹn toàn đời Hán Nguyên đế bị đem cống nạp cho Thuyền Vu ( tù trưởng quân Hung nô ) để đổi lấy hoà ước . Lúc qua đến đất Hồi , Chiêu Quân gảy khúc Quá quan làm mọi người đưa tiễn đều phải khóc.
Trong lịch sử nước ta cũng có Huyền Trân công chúa đã phải kết duyên cùng Chế Mân (1306) vua nước Chiêm Thành để đổi lấy hai châu Ô, Lý (Huế ngày nay)
“Nước non ngàn dặm ra đi
Tội tình chi
Mượn màu son phấn đền nợ Ô Lý
Đắng cay vì đương độ xuân thì…”
(Theo điệu Nam Bình) vô cùng sầu thương,buồn thảm.
Sự liên tưởng ngẫu nhiên làm cho ta giật mình. Câu hỏi được đặc ra: Phải chăng có một số danh phẩm nhạc cổ truyền Huế đã được hình thành từ cảm hứng những cầm tấu khúc của Vương Thúy Kiều?